LÚA TRỜI RỤNG BUỔI SỚM MAI

10/07/2021 2251

LIGHTBOX - 4 giờ sáng, đồng nước mênh mông đã văng vẳng tiếng người. Người đàn ông lớn tuổi nhất như đang với lại một điểm rất xa trước mặt, nói: “đằng đẳng kìa, cách gì mà không kịp lúc trời còn tối”. Mấy chiếc xuống nối đuôi nhau về hướng “đằng đẳng”. Họ đang “chạy đua với mặt trời”. Chim cò đây đó giật mình, đập cánh kêu oang oác, át đi tiếng côn trùng vẫn réo sôi nãy giờ. Họ, là những người đang đi gặt lúa ma.

 

Ảnh : Huỳnh Thanh Phong

 

Cái gói ghém của tự nhiên

Chuyện về lúa ma đặc biệt ở chỗ, khi người ta kể càng chi tiết và chân thật, thì nghe càng kỳ bí. Những lão nông ở miệt Đồng Tháp Mười nói “lúa này có từ thời khai thiên lập địa, hồi mấy vị tiền hiền vào đây mở cõi”, giới khoa học thì cho biết giống lúa có thể đã tồn tại hàng triệu năm ở vùng đất này.

Nhưng sự kỳ bí không đến từ gốc gác của giống loài, mà chính bởi sự hiện diện xuyên suốt của lúa ma từ khi nó được nhìn thấy bởi con người. Lúa thường trổ đòng vào mùa nước, rồi chín vào độ tháng 10-11 dương lịch. Và kỳ lạ là hạt lúa chỉ chín trong đêm. Khi đến độ, hạt lúa sẽ lặng lẽ chín đẫy rồi rụng khi gặp ánh nắng mặt trời vào buổi sáng kế tiếp. Người đi gặt lúa phải “chạy đua với mặt trời”, là bởi chỉ trong những khoảnh khắc giao thời giữa đêm-ngày, họ mới có cơ may lấy được những hạt lúa đang độ chín nhất. Còn nếu đến sau, chắc chắn chỉ còn thấy những bông lúa trơ trọi những hạt còn xanh…

Lúa mọc hoang nên hay được gọi bởi cái tên “lúa trời”, “lúa hoang”, “lúa ma”. Ngồi trên xuồng, người ta sẽ thấy cây lúa cao ngang ngực. Nhưng chiều cao thực sẽ được cộng với mực nước. Nước càng dâng, thân cây càng cao và vươn ngọn lên khỏi mặt nước. Vào lùa lũ lớn, thân cây lúa ma có thể cao đến 3-4m. Đoạn giữa thân cây là những lóng rỗng luôn sẵn sàng tăng trưởng theo mực nước. Ở bên trên, ánh sáng và ô xy sẽ được tiếp nhận bởi ngọn cây rồi đi theo những lóng rỗng này xuống nuôi cây.

Sau này, những nhà khoa học xác định hạt lúa ma ở Tràm Chim là loài Oryza rufipogon. Không khuất phục nước lũ, lúa ma cũng không “cúi đầu” trước những thách thức muôn đời của vùng phù sa này. Phèn chua, hạn mặn, sâu bệnh đều không ngăn cản được những mùa lúa ma vẫn lặng lẽ và mãnh liệt tiếp diễn giữa đồng sâu. Vào mùa lúa, người ta dễ dàng nhìn thấy những bông lúa lạ lùng với những hạt nhỏ xíu gắn thêm chiếc đuôi thật dài. Bông lúa từ màu xanh chuyển dần sang tím ở phần ngọn, bung những nhánh mảnh mai lên giữa không trung như một loài thiên điểu. Hạt lúa ma chỉ ngắn bằng nửa hạt lúa thường, nhưng đuôi lúa lại dài gấp ba bốn lần. Theo những lão nông ở đây, cái tên “lúa ma” còn có thể được đặt theo cách “tự vệ” của hạt lúa. Các loài chim, chuột rất sợ ăn phải lúa ma bởi chúng chắc chắc sẽ chết vì không thể nuốt được hạt lúa có cái đuôi dài, mảnh và cứng đó.

Từ rìa Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông (tỉnh Đồng Tháp), phải bơi xuồng rất xa mới vào đến vùng có những đồng lúa ma co cụm giữa nội đồng. Ở đó, loài lúa hoang tự làm hết các phần việc của nó. Hạt lúa chín xong sẽ được “gặt” bằng ánh mặt trời, rụng xuống nước. Lúa “thu hoạch” được sẽ một phần làm thức ăn cho cá, một phần chìm vào đất, trầm mình trong phần sau của mùa nước lũ, rồi trải qua cả cái khô hạn kế tiếp trước khi nảy mầm khi mùa nước lại về.

Cả một vòng đời của lúa trời như một cuộc gói ghém hoàn hảo của tự nhiên. Mỗi năm, sau mùa hạn, những cơn mưa đầu tiên sẽ hoà tan phèn tạo nên một lớp nước mặt rất chua, khiến mọi loài thực vật đề không thể nảy mầm. Riêng mầm lúa ma vẫn nảy và rễ thì bám sâu vào đất. Rễ cây được cho là có khả năng khử các chất gây chua, hút lấy dinh dưỡng và nước trong đất để tăng trưởng. Và khi nước lũ đổ về ồ ạt, thân cây có thể cao vượt hàng chục centimet mỗi ngày để theo kịp mực nước.

Những gì lúa ma đã trải qua khiến người ta tưởng chừng nó “bất tử”. Nhưng, thực tế đang đặt giống loài triệu năm vào những thách thức chưa từng có. Những mùa nước lũ nghèo nàn, mực nước thất thường. Cây lúa ma không thể vươn cao, và những đòng lúa trơ trọi những hạt lúa lép. Lúc này, người ta chợt nhận ra, mùa nước nổi chính là điều kiện sống còn của lúa ma. Khi nước ngập đồng, sự sống của các cây cỏ tạm lùi đi chính là lúc lúa ma có được nguồn sống tối ưu để phát triển. Mùa nước nửa chừng khiến cỏ cây um tùm giành phần sống muôn đời chính là lúc nguồn sống của lúa ma trở nên thiếu hụt...

Phần huyền thoại dày lên, phần thực tế mỏng dần dưới cái tên “lúa ma” hay “lúa trời”. Loài cây hoang vu vẫn còn đó, trong đồng sâu. Nhưng đời sống đã khấm khá dần, những giống lúa cao sản đã cho cả vùng những vụ mùa đầy ắp. Người ta không còn vào tận ruộng sâu để gặt lúa trời. Những vạt lúa ma vì thế càng thêm hoang vu, sự sống lại đang thu hẹp dần bởi biến cố nguồn nước. Thứ sản vật đất trời giờ chỉ còn như một hiện thân của văn hoá, chứ không còn là một thứ cây trái với mùa màng rõ rệt như xưa. Hay nói chính xác hơn, cây lúa ma trứ danh của vùng Đồng Tháp Mười đang dần bước vào huyền thoại…

 

Ký ức vùng đất

Trên đoàn xuồng đang tiến vào nội đồng xã Phú Hiệp (Tam Nông, Đồng Tháp) buổi sớm mai không phải những nông dân đi tìm nguồn lương thực, mà là những cụ già đang đi tìm ký ức. Lúa ma đã nuôi sống cư dân vùng sông nước vào thời giặc giã đói kém. Rồi đến những năm 1970-1980, khi lụt lội khiến cả vùng đất chịu cảnh mùa màng bấp bênh. Nhưng họ luôn có cây lúa ma ở đó, lặng lẽ và bền bỉ cứu lấy cái ăn cho những người chịu xuyên đồng từ nửa đêm.

Ảnh : Vân Trường

Chiếc xuồng đi gặt lúa ma nhỏ gọn. Giữa xuồng đặt chiếc mê bồ cao chừng 1 mét, dài 2 mét. Trên xuồng gắn 3 cây tre nhỏ và cong như chiếc cần câu. 2 chiếc song song 2 bên mạn xuồng nối từ đuôi xuồng lên phía trước mũi, có 2 sợi dây thòng xuống để buộc cố định lại bởi cây tre thứ 3 cắm trước mũi xuồng. Tờ mờ sáng, xuồng lướt vào những vùng lúa hoang tựa như một đám cỏ cao giữa đồng nước bạt ngàn. Một lão nông kinh nghiệm nhất cầm chiếc đèn pin rọi vào “đám cỏ” và xác định “lúa ma đây rồi, gặt luôn hen!”. Cứ thế, người đứng trước chống sào lướt tới, người ngồi sau điều khiển hai thanh tre giờ đã được buộc lại như đôi cánh, lùa những cây lúa ma ở hai bên mạn xuồng cho ngả vào trong. Khi bông lúa chạm với tấm mê bồ ở giữa xuồng, những hạt lúa chín sẽ rụng xuống.

Lúa ma không chín đồng loạt. Trung bình mỗi bông lúa ma có 7-9 nhánh, mỗi nhánh có gần 10 hạt nhỏ xíu. Mà mỗi ngày, mỗi bông chỉ chín vài hạt, lại rất dễ rụng nên không thể cắt cả bông đem về nhà. Xưa nay người ta vẫn gặt lúa bằng chiếc xuồng có “đôi cánh tre” và chiếc mê bồ đó. Từ những ngày có lúa chín, nông dân lại đi mỗi sáng. Thuở đó, một chuyến gặt đêm của gia đình 6 người (đi ba xuồng) như thế có thể thu về 5-6 giạ lúa ma. Độ 10 ngày đến nửa tháng là thu hoạch xong một mùa lúa.

Nhiều người kể lại, vào cái thời còn bỡ ngỡ, nhiều nông dân vừa đi vừa “đánh dấu” những vị trí có lúa chín để lấy ở vòng về. Nhưng khi quay về, những vị trí kia chỉ trơ trọi những hạt xanh chưa kịp chín. Nhiều lần như thế, người ăn lúa trời mới biết những hạt lúa kia sẽ rụng khi có ánh mặt trời…

Với bản năng sinh tồn và sự dạn dày sông nước, nông dân vùng Tràm Chim đã tự đúc kết một quy trình xử lý hạt lúa ma. Hạt lúa đem về phải ngâm nước một đêm cho rụng hết đuôi, sau đó đem phơi khô rồi mới giã lấy gạo. Hạt lúa ma nhỏ với dáng dài, nấu ra một loại cơm thơm và dẻo. Trong ký ức của những cư dân U70 – 80 ở vùng đất này, vào buổi trưa mà đứng tuốt dưới bờ sông cũng có thể nghe mùi cơm thơm nức nếu vị gia chủ nào đó vừa mở nắp nồi đương lúc cơm sôi…

Trước khi dịch bệnh ập đến, mỗi năm Tràm Chim lại đón những đoàn chuyên gia ngoại quốc đến thăm và lấy giống lúa ma về nghiên cứu. Sức sống kỳ lạ của giống lúa hoang vu này là một ẩn số luôn hấp dẫn giới khoa học - những người luôn thao thức với nguồn sống tương lai của nhân loại trước nguy cơ biến động khí hậu. Còn với người dân xứ Đồng Tháp Mười, “lúa ma” là một cái tên làm thao thức những buổi sớm mai lục đục với tiếng thanh tre đập vào mê bồ, hay mùi cơm sực nức khi lảng vảng quanh xóm vào những buổi trưa đói lòng…

Minh Trâm

Tags: Không có
× Đăng nhập để bình luận.